Giới thiệu

 
Giới thiệu

Địa lý huyện Bình Xuyên

1. LỊCH SỬ
Thời kỳ thuộc Pháp, thực dân Pháp áp dụng hàng loạt chính sách áp bức bóc lột khiến cho đời sống nhân dân huyện Bình Xuyên hết sức cực khổ. Trước khi Đảng Cộng sản được thành lập, nhân dân Bình Xuyên cũng đã tham gia nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp của các sĩ phu yêu nước trong vùng.
Từ năm 1933, các chi bộ địa phương của huyện Bình Xuyên lần lượt ra đời, tạo động lực lớn cho phong trào cách mạng tại đây phát triển mạnh mẽ. Ngày 24 - 8 - 1945, Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời huyện Bình Xuyên được thành lập do  ông Nguyễn Văn Thao làm Chủ tịch. Cũng trong ngày này, huyện Bình Xuyên đã giành được chính quyền.
Trong kháng chiến chống Pháp, nhân dân Bình Xuyên vừa phải đâu tranh chống các hoạt động phá hoại của thực dân Pháp và sự quây nhiễu của quân Tưởng Giới Thạch, vừa phải ra sức củng cố xây dựng chính quyền còn non trẻ. Nhân dân huyện Bình Xuyên đã tích cực tham gia các phong trào: Tuần lễ vàng, Quỹ độc lập, Quỹ vệ quốc đoàn, Mùa đông binh sĩ do Mặt trận Việt Minh phát động, nhằm ủng hộ Chính phủ và Nam Bộ kháng chiến.
Tháng 9 - 1946, Huyện ủy lâm thời huyện Bình Xuyên được thành lập, đánh dâu bước phát triển quan trọng trong phong trào cách mạng của huyện.
Năm 1947, thực dân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng lên các tỉnh miền núi phía Bắc, nhân dân huyện Bình Xuyên đã cùng nhân dân cả nước đứng lên kháng chiến, kiến quốc. Các thôn xóm sẵn sàng vừa sản xuất vừa chiến đấu dưới nhiều hình thức để ngăn cản bước tiến của quân thù. Huyện ủy cũng tổ chức những "ngày tòng quân" và được nhân dân hưởng ứng nhiệt tình. Riêng trong năm 1949, ở Bình Xuyên đã có đến 500 thanh niên nhập ngũ. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nhân dân huyện Bình Xuyên lại tiếp tục đấu tranh buộc giặc Pháp rút quân, ngày 19 - 7 - 1954, huyện Bình Xuyên sạch bóng quân thù.
Sau khi miền Bắc được giải phóng, công cuộc khôi phục kinh tế diễn ra sôi nổi khắp các xã trong huyện. Ngày 12 - 2 - 1956, Bác Hồ về thăm huyện Bình Xuyên, khích lệ nhân dân hăng hái tham gia sản xuât, xây dựng nông thôn mới.
Trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, ngày 8 - 11 - 1967, lực lượng dân quân xã Sơn Lôi đã bắn rơi tại chỗ máy bay phản lực của giặc Mỹ. Quân dân Bình Xuyên còn đóng góp hàng nghìn ngày công lao động phục vụ chiến đấu, bảo đảm giao thông liên lạc, giải quyết hậu quả sau mỗi lần địch đánh phá, hàng nghìn thanh niên đã lên đường nhập ngũ để chi viện cho chiến  trường miền Nam.
 

2. ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH
Từ thời Trần, vùng đất Bình Xuyên đã được lưu danh sử sách. Cánh đồng  Bình Lệ Nguyên (vùng Hương Canh - Đạo Đức ngày nay) từng nổi tiếng với trận quyết chiến do Vua Trần Thái Tông đích thân chỉ huy chặn đánh quân Nguyên - Mông năm 1285. Tên Bình Nguyên có thể bắt nguồn từ đó và tồn tại cho đến thời thuộc Minh (thế kỷ XV).
Vào thời Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức (1470 - 1497), tên huyện Bình Tuyền xuất hiện. Điều này đã được ghi lại trong sách Đại Nam nhất thống chí: "Xưa  là huyện Bình Nguyên, đời Lê Hồng Đức đổi làm Bình Tuyền". Trong gần 400 năm, từ thời Hậu Lê, qua nhà Mạc, Lê Trung hưng đến đầu thời Nguyễn, đất Bình Xuyên ngày nay thuộc địa phận hai huyện: Bình Tuyền và Yên Lãng. Năm 1831, Vua Minh Mạng ban một đạo dụ thành lập phân phủ Vĩnh Tường. Có thể vào thời kỳ này, một phần đât của huyện Yên Lãng được tách khỏi phân phủ Vĩnh Tường và nhập vào huyện Bình Tuyền. Mười năm sau, đạo dụ năm Thiệu Trị thứ 2 (1841), đổi tên Bình Tuyền thành Bình Xuyên và đưa vào phạm vi tỉnh Thái Nguyên.
Đến thời Pháp thuộc, ngày 6 - 1 - 1890, Toàn quyền Đông Dương ban bố'  Nghị định thành lập tỉnh Vĩnh Yên. Huyện Bình Xuyên được tách khỏi tỉnh Thái Nguyên, đưa về tỉnh Vĩnh Yên. Xã Hương Canh, huyện Bình Xuyên được chọn làm tỉnh lỵ. Ngày 16 - 4 - 1891, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định giải thể tỉnh Vĩnh Yên. Huyện Bình Xuyên trực thuộc tỉnh Sơn Tây, do một viên đại úy người Pháp thay mặt Công sứ Sơn Tây cai quản. Ngày 29 - 12 - 1899, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tái lập tỉnh Vĩnh Yên. Huyện Bình Xuyên lại trực thuộc tỉnh Vĩnh Yên.
Về cơ bản, từ khi tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập rồi sáp nhập với Phú Thọ, địa giới hành chính huyện Bình Xuyên ít có sự thay đổi. Một số điều chỉnh về hành chính thường diễn ra ở câp huyện.
    - Lần thứ nhất: theo Quyết định số 178/QĐ ngày 15 - 7 - 1977 của Chính phủ, huyện Bình Xuyên hợp nhât với huyện Yên Lãng và thị trấn Phúc Yên thành huyện Mê Linh.
    - Lần thứ hai: thi hành Nghị quyết của kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa VI và Thông báo 13/TBTU ngày 14 - 12 - 1978 của Trung ương, huyện Bình Xuyên tách khỏi huyện Mê Linh để hợp nhât với huyện Tam Dương thành huyện Tam Đảo.
    - Lần thứ ba: ngày 1 - 1 - 1997, huyện Tam Đảo thuộc tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập. Đến ngày 1 - 9 - 1998, theo Nghị định số' 36/1998/ NĐ-CP của Chính phủ, huyện Tam Đảo được chia tách trở lại thành hai huyện cũ là Bình Xuyên và Tam Dương.
    - Lần thứ tư: ngày 18 - 8 - 1999, theo Nghị định số 72 của Chính phủ, hai  thôn Vị Thanh và Vị Trù của xã Quất Lưu tách ra, thành lập xã Thanh Trù và được chuyển vào địa phận thị xã Vĩnh Yên. Ngày 10 - 6 - 2003, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc có quyết định công nhận huyện Bình Xuyên gồ'm 14 xã, thị trấn với tổng số 170 thôn (tổ dân phố).
    - Lần thứ năm: ngày 1 - 1 - 2004, xã Minh Quang tách ra khỏi huyện Bình Xuyên, nhập vào huyện Tam Đảo mới.
Hiện nay, Bình Xuyên có 13 đơn vị hành chính (với 151thôn và tổ dân phố), gồm 3 thị trấn là Gia Khánh, Hương Canh, Thanh Lãng và 10 xã: Trung Mỹ, Thiện Kế, Bá Hiến, Hương Sơn, Sơn Lôi, Tam Hợp, Quất Lưu, Tân Phong, Đạo Đức, Phú Xuân.
 

    3. ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
    a. Vị trí địa lý:
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 148,47 km­­2, trong đó đất nông nghiệp chiếm (104,9619 km2) 70,69%, đất phi nông nghiệp (42,8915 km2) chiếm 28,89 %, đất chưa sử dụng  0,6247 km2, chiếm 0,42%.
Vị trí địa lý huyện Bình Xuyên được xác định như sau: bắc giáp tỉnh Thái Nguyên; nam - đông nam giáp huyện Mê Linh, thuộc Hà Nội; nam - tây nam giáp huyện Yên Lạc; đông giáp thị xã Phúc Yên; tây giáp huyện Tam Đảo, huyện Tam Dương và thành phố Vĩnh Yên.
    b. Địa hình và thổ nhưỡng:
Bình Xuyên là khu vực bán sơn địa nên địa hình mang tính chất chuyển tiếp, với đủ ba dạng địa hình cơ bản là vùng đồi núi, trung du và đồng bằng.
Địa hình miền núi: 4.571,9 ha, chiếm 30,8% diện tích toàn huyện (chủ yếu ở xã Trung Mỹ). Địa hình bị chia cắt mạnh, hơn 2/3 diện tích có độ dốc trên 250, chủ yếu thuộc sườn núi Ngọc Bội.
Do địa hình bị chia cắt mạnh như thế nên đất đai cũng khá phức tạp, ở phần  đất có độ dốc lớn thì tầng đất mỏng (dưới 100cm), độ phì rất thấp. Ngoài ra còn khoảng 100 ha đất có thể canh tác lúa cao sản.
Đây là vùng có khả năng phát triển kinh tế đồi rừng, tạo nên những vùng chuyên canh cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lấy gỗ khá lớn. Mặt khác còn có thể khai thác ngành du lịch sinh thái, phù hợp với đinh hướng phát triển kinh tế đa ngành.
Địa hình trung du: có diện tích lớn nhất huyện với 7.284,9 ha, chiếm 49,06% diện tích đất tự nhiên toàn huyện. Địa hình này bao gồm 7 xã và 2 thị trấn (thị trấn huyện lỵ Hương Canh, thị trấn Gia Khánh; các xã Thiện Kế, Bá Hiến, Hương Sơn, Tam Hợp, Quất Lưu, Sơn Lôi). Khu vực trung du chủ yếu là các đồi, gò có độ dốc trung bình.
Đây là vùng có tiềm năng phát triển nền sản xuất nông nghiệp đa dạng nhờ  quỹ đất đồi gò lớn. Phần lớn đất đai có độ phì từ trung bình đến thấp do quá trình  canh tác và sử dụng đất những năm qua chưa hợp lý. Đất có độ dốc chủ yếu từ 3 -  150, tầng dầy đất đồi là 50 - 100 cm rất thuận lợi cho trồng cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm với quy mô lớn. Đây cũng là vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi đại gia súc.
Ngoài ra, vùng trung du còn có trên 200 ha đất ruộng trũng (tập trung chủ yếu ở Sơn Lôi và một phần ở Quất Lưu, Tam Hợp, Bá Hiến) cũng có thể cải tạo để nuôi trồng thủy sản.
Địa hình đồng bằng: có khoảng 2.990,8 ha, chiếm 20,14% tổng diện tích đất tự nhiên. Đất đai có nguồn gốc phù sa màu mỡ, phì nhiêu phân bố chủ yếu tại thị trấn Thanh Lãng và ba xã Tân Phong, Đạo Đức, Phú Xuân. Đây là vùng địa hình bằng phẳng, thuận lợi cho thâm canh lúa, hoa màu, cây công nghiệp hàng năm; tuy nhiên, hiện nay vẫn còn gần 900 ha (chiếm 32,4% diện tích cây hàng năm của vùng)  thường bị úng trong mùa mưa, chỉ cấy được một vụ lúa chiêm; nếu được đầu tư đúng hướng, có thể phát triển nuôi trồng thủy sản.
c. Khí hậu:
Bình Xuyên mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới, có mùa đông lạnh. Tuy nhiên, do địa hình phân hóa làm ba miền khá rõ rệt nên khí hậu cũng có sự phân hóa theo địa hình.
Vùng đồng bằng: nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 - 240C, có sự thay đổi  khí hậu giữa các tháng trong năm; tháng nóng nhất, nhiệt độ lên đến 29 - 300C (tháng 7, 8), tháng lạnh nhất chỉ 170C (tháng 1). Số giờ nắng trung bình năm đạt 1.400 - 1.500 giờ. Lượng mưa trung bình đạt 1.200 - 1.300 mm/năm. Độ ẩm tương đốì khoảng 83%, trong đó tháng có độ ẩm cao nhất là 85% (tháng 2), thấp nhất là 70% (tháng 10).
Vùng miền núi: nằm trong hệ sơn văn Tam Đảo nên mang tính chất của khí hậu miền núi. Nhiệt độ trung bình của khu vực này thấp hơn so với vùng đồng bằng khoảng 3 - 40C, nhiệt độ trung bình năm khoảng 19 - 200C, tháng có nhiệt độ cao nhất đạt 23,30C (tháng 8), nhiệt độ thấp nhất có thể xuống đến 11,20C (tháng 1), biên độ dao động nhiệt trong năm lớn (12,10C). Lượng mưa trung bình đạt khoảng 1.700 mm/năm, cao nhất vào tháng 5 (357 mm), thấp nhất vào tháng 10 (dưới 10 mm). Độ ẩm trung bình năm vào khoảng 88%, cao nhất là trên 90% (tháng 1, 7, 8).
Vùng trung du: khí hậu mang tính chất chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng và miền núi.
Trong năm, huyện Bình Xuyên chịu ảnh hưởng khá rõ rệt của hai loại gió mùa là gió mùa đông và gió mùa hè. Gió mùa đông thổi theo hướng đông bắc, từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, gây nên thời tiết lạnh và khô; gió mùa hè thổi từ tháng 4 đến tháng 9, theo hướng đông nam, gây nên thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều.
Nhìn chung, khí hậu Bình Xuyên có sự phân hóa khá rõ qua thời gian và  không gian, đặc biệt có sự phân hóa theo độ cao, đã tạo ra nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, nhất là phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, thời tiết trong năm diễn biến phức tạp, bão lốc và mưa đá thường xảy ra, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của người dân.
    d. Thủy văn:
Hệ thống thủy văn huyện Bình Xuyên khá đa dạng với lượng nước tương đối điều hòa. Sông Cà Lồ phân chia ranh giới huyện Bình Xuyên với huyện Mê Linh (nay thuộc Hà Nội), cung cấp nước tưới cho hai xã phía nam huyện. Bên cạnh đó còn có một hệ thống sông, suối nhỏ khác như: sông Mắc Áo, sông Cánh, sông Mây, suối Nứa. Không chỉ có sông, suối, Bình Xuyên còn có nhiều hồ, đầm, trong đó có những đầm nổi tiếng như: đầm Láng (Thanh Lãng), đầm Cả (Hương Canh - Đạo Đức), đầm Nội Phật (Tam Hợp). Gần đây, ở Bình Xuyên có một số hồ chứa nước được xây  dựng, như hồ Thanh Lanh và Gia Khau có sức chứa hàng triệu mét khối nước, giúp cho các vùng trồng lúa chủ động nước tưới và hạn chế được ngập úng vào mùa mưa lũ; đồng thời phát triển chăn nuôi và chăn thả gia cầm. Hệ thống kênh tưới Liễn Sơn cũng có vai trò đáng kể cho việc tưới tiêu của huyện.

18/08/2017